Những công hạnh của Đức Bairo Rinpoche - Bậc Hóa thân của Đại dịch giả Vairocana (Phần 3) | Drukpa Việt Nam

Bạn đang ở đây

Những công hạnh của Đức Bairo Rinpoche - Bậc Hóa thân của Đại dịch giả Vairocana (Phần 3)

1
31/03/2026 - 21:50

Tôi nhớ cách đây nhiều năm, nhiều bậc thầy tâm linh của các truyền thống Phật giáo Sakya, Kagyu và Nyingma đã cùng vân tập ở tự viện của chúng tôi tại Darjeeling. Ngay cả Đức Khenpo Drimed Dazer, thường được gọi là Khenpo Noryang, thuộc truyền thống Drukpa của chúng tôi cũng tham dự. Các bậc Thầy có một cuộc tranh biện đầy trí tuệ. Một lúc sau cha tôi từ từ đứng dậy, rồi đến ngồi vào nhóm và trả lời tất cả những câu hỏi tranh biện trước sự ngạc nhiên tán thán của mọi người.

Tối hôm đó, Đức Khenpo Noryang, vốn là một người ít nói, đã bảo tôi: “Ta biết Bairo Rinpoche là bậc am tường tất cả các lĩnh vực kiến thức kể cả về thuật toán Phật pháp, nhưng thực sự ngạc nhiên khi thấy Ngài tinh thông đến vậy những kinh sách như Hiện quán Trang nghiêm Luận của Phật Di Lặc. Có lẽ Ngài giả như không biết. Thật tuyệt vời!” Tôi nhớ hôm đó các bậc Thầy tranh luận về Bảy mươi Chủ đề trong tác phẩm đó. Trong khi đang nói chuyện với cha tôi vài ngày sau đó, tôi nhận xét: “Hôm trước Cha tham gia vào cuộc tranh biện và làm mọi người rất ngạc nhiên”. Ngài trả lời: “Có gì mà đáng ngạc nhiên? Không cần học thì ai cũng biết như vậy. Còn nếu đã nghiên cứu tìm hiểu thì tất nhiên phải giải thích được”. 

Dù có kiến thức rộng lớn như vậy nhưng cha tôi luôn giữ thái độ khiêm nhường. Ngài chẳng bao giờ màng đến danh tiếng. Cha tôi không chỉ tinh thông giáo pháp mà còn thành thạo nhiều lĩnh vực khác nhau.

Cha tôi cũng có thể đọc được suy nghĩ của người khác và có sự hiểu biết phi thường nhưng không bao giờ để lộ ra điều đó. Một ví dụ nhỏ là vào tháng 3 năm 1996 khi còn đang ở Darjeeling, cha tôi gọi anh họ tôi là Lobsang Thargay đến và hỏi: “Hôm nay là ngày vợ cháu sinh con phải không?” Anh Lobsang trả lời: “Không ạ. Bác sĩ dự đoán vợ cháu sinh vào tháng Tư.” Cha tôi liền nói giọng bông đùa: “Ta hiểu rồi. Chắc một con ma vừa nói với ta rằng vợ cháu sẽ sinh hôm nay” rồi Ngài cười to. Khi Lobsang tới Delhi, anh ấy mới biết rằng vợ mình vừa sinh em bé đúng vào thời điểm mà cha tôi hỏi. Thông thường, mỗi khi các thị giả nói dối về việc mà họ đang làm hay nơi họ sẽ đến, Ngài chỉ thường cười to và bảo “Tốt thôi”. Tự thấy có lỗi, người đó sẽ đỏ mặt và từ từ cáo lui.

Vào những năm 50, trước cảnh thế bất tường và tuân theo những lời huyền ký của Đức Liên Hoa Sinh, cha tôi chuyển tới Lhasa qua ngả Tahsi Khyil và tham gia Pháp hội Đại nguyện Monlam, lễ cúng dường Ganachakra, nghi lễ tranh biện và nhiều sự kiện tâm linh khác tại Lhasa. Lúc rời tự viện, cha tôi đem theo một số thị giả gồm cả Drukchung, Chokyab và Thubga, nhưng vài người đã trở về để trông nom nhà cửa của họ. Phần lớn các thị giả quay về tự viện. Cha tôi kể: “Thubga giống như người quản lý của ta. Ông ấy ở lại để trông nom đồ đạc của ta. Ta nghe nói sau đó ông ấy bị giết hại. Thật là đáng tiếc! Ta đã đề nghị Khenpo Drukchung giúp đỡ và ông ấy đã nhận lời không chút đắn đo”.

Sau đó Khenpo Drukchung kể lại: “Đức Bairo Rinpoche đời trước có lần gọi tôi tới và nói ‘Sẽ có ngày ông phải gánh vác trọng trách của ta’ và cho tôi một viên kẹo đường. Đó là một lời tiên tri rằng tôi sẽ được phụng sự hóa thân chuyển thế đời sau của Ngài”.

Từ Lhasa, cha tôi đi tới Mindrol Ling và trong hành trình này đã nhập thất 100 ngày tại Yarlung Sheldrak. Ngài kể: “Tự viện Mindrol Ling đã chuẩn bị chu đáo và đón tiếp ta rất trọng thị. Ta đã đón nhận giáo pháp về Hướng dẫn thực hành Bồ tát đạo và những khai thị khác từ Đức Minling Khenpo Rinpoche. Ta cũng được thụ nhận quán đỉnh của truyền thống khẩu truyền Tràng hoa Tri kiến và quán đỉnh Kim Cương Tát Đỏa... từ Đức Minling Chung Rinpoche”. Sau đó cha tôi nhập thất ở Khempa Jong (vùng đất bí mật của Thượng sư Liên Hoa Sinh) trong một vài năm rồi đi sang Bhutan.

Về mặt lịch sử, có một mối thâm duyên thù thắng giữa hai truyền thừa Kathok và Drukpa trong thời gian Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ VII và VIII trụ thế. Đặc biệt Ngài Rigzin Tshewang Norbu, tâm bất khả phân với tâm của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ VII, đã có đóng góp rất lớn cho kho tàng giáo pháp của Truyền thừa Drukpa. Hẳn là vì mối nhân duyên này mà tôi, người mang danh hiệu Gyalwang Drukpa thứ XII, được sinh ra làm con của bậc đứng đầu truyền thừa Nyingma Kathok. Khi tôi chào đời thì cha tôi khoảng 28 tuổi.

Thời đó, bà Bedi, một phụ nữ người Anh, đã mở một ngôi trường để giúp các bậc Hóa thân trẻ tuổi của cả hai truyền thống Tân Mật và Cổ Mật học tiếng Anh với mục đích lợi ích cho giáo pháp và chúng sinh. Tôi được nghe kể rằng cha tôi học tiếng Anh rất dễ dàng. Bản thân Ngài lại nói rằng Ngài không học được nhiều vì không có hứng thú. Tuy vậy, người ta kể lại là Ngài đã dạy kèm tiếng Anh cho các bậc Hóa thân trẻ.

Lúc đó có nhiều bậc Thượng sư tâm linh và Hóa thân tìm cách để đi ra nước ngoài. Một số người tốt bụng khuyên cha tôi nên ra nước ngoài vì Ngài có kỹ năng ngoại ngữ, vẽ tranh, rửa ảnh, thậm chí còn biết sửa đồng hồ và đài. Hơn nữa, Ngài cũng có kiến thức uyên thâm về triết học và văn hóa Phật giáo cùng các phương pháp thiền định bí mật, và như thế thì việc tìm kế sinh nhai sẽ không khó khăn gì. Nhưng bà Bedi lại nhận định: “Một bậc Thầy như Ngài mà đi ra nước ngoài thì là điều may mắn cho những chúng sinh phương xa như con, nhưng sẽ là sự lãng phí thời gian của Ngài. Những nơi như Ấn Độ, Bhutan, Sikkim và Nepal mới là những trụ xứ dành cho các bậc Thượng sư và Hóa thân. Phật pháp sẽ lợi ích hơn nếu Ngài ở lại”. Sau này, cha tôi kể lại: “Lời khuyên của bà ấy rất hữu ích khi ta còn đang lưỡng lự chưa quyết sẽ làm gì. Việc ở lại vùng Himalaya đã giúp ta đem lại chút lợi ích cho giáo pháp và chúng sinh”. Ngài chỉ thuật lại ngắn gọn với tôi như vậy.

Nhưng trong bài cầu nguyện trường thọ cúng dàng lên cha tôi, Ngài Khyentse Choekyi Lodoe, hóa thân của Đức Văn Thù, có viết: 

 

“Nguyện Ngài an trụ Kim cương Bảo tòa,

Dùng công hạnh diệt tứ ma

Hoằng dương Phật Pháp chan hòa muôn nơi”

Lời kệ cầu nguyện này đã tiên đoán rằng cha tôi sẽ vượt qua những chướng ngại khó khăn và thực hành các công hạnh giác ngộ tại Ấn Độ và Nepal, một trụ xứ thực sự của Phật pháp, nơi mọi người tự do hành động theo Phật pháp vì lợi ích hữu tình. Một ví dụ là cha tôi đã kiến lập tự viện Zhichen Bairo Ling, một tự viện tuyệt vời cả về cấu trúc bên ngoài và kiến trúc bên trong, tọa lạc cạnh Bảo tháp Boudha linh thiêng ở thủ đô Kathmandu, Nepal. Nhiều người có dự định xây tự viện đã tới thăm tự viện này để học hỏi và tìm hiểu về thiết kế, và một số còn chụp ảnh để làm mẫu cho tự viện họ sắp xây dựng.

Viết bình luận

Chúc mừng năm mới
Số lượt truy cập: 3,271,969
Số người trực tuyến: