Những câu chuyện về Cảm ứng gia trì của Đức Quan Âm - Chuyện thứ nhất | Drukpa Việt Nam

Bạn đang ở đây

Những câu chuyện về Cảm ứng gia trì của Đức Quan Âm - Chuyện thứ nhất

867
01/11/2017 - 17:32

Năng lực cứu độ của Đức Quan Âm dựa trên cảm ứng gia trì của chúng sinh với Ngài. Đó chính là vô tác diệu lực hay sự hợp nhất giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Bi tâm của Đức Quan Âm luôn luôn hưởng ứng với những khổ tâm kêu cầu của chúng sinh. Có cảm tất có ứng, khi chuyên tâm trì niệm danh hiệu Ngài là lúc ta chuyên chú niệm tự tính Từ bi nơi chính mình, nhờ vậy giao cảm được sự gia trì cứu độ của Đức Quan Âm. Giống như sóng vô tuyến điện luôn có sẵn trong không gian để truyền tin tức từ các đài phát thanh, nếu ai có máy thu thanh hợp với tần số phát sóng thì sẽ có thể “bắt được sóng”, thu được tin tức. Khi chí tâm cầu nguyện tới Đức Quan Âm, tâm ta đã hợp nhất với “tần số” tâm Đại bi của Ngài, vì thế mà được cứu độ. Đó là nguyên lý đơn giản của năng lực gia trì, không có gì gọi là siêu hình hay mê tín cả.

 

 

Từ xưa tới nay, trong khắp nhân gian không ai không cầu nguyện lên Đức Quan Âm. Từ Ấn Độ, Himalaya, Nepal tới Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam…, khắp nơi đều ghi nhận lại vô số câu chuyện về cảm ứng gia trì, linh cảm nhiệm màu từ Đức Quan Âm. Những câu chuyện đó muôn hình muôn vẻ, từ sự mầu nhiệm cứu thoát khỏi những tai nạn như đắm tàu, đuối nước, lửa cháy, tù tội, gông cùm, tai nạn giao thông trên đường đi hay nạn ma quỷ, vong nhập tới việc chữa lành những bệnh nan y, chữa mù thành sáng, chữa câm thành nói được, rồi cả những điều cầu nguyện thế gian như cầu tự, cầu thoát khỏi cảnh sống cơ cực bần hàn… Quả thực không sai khác với từng lời dạy trong Kinh!

 

Vì khuôn khổ giới hạn của cuốn sách, dưới đây chúng tôi chỉ tuyển lựa một số chuyện đời thực về linh cảm cứu độ của Đức Quan Âm đối với người Việt Nam.

 

Truyện thứ nhất - Thoát nạn nước cuốn

 

Nước trôi không bị chìm

Nhờ sức niệm Quan Âm

Được sống lâu thọ mạng

Nhờ Quan Âm hộ trì

 

Hồi mới lên 6, 7 tuổi, tôi và anh trai cứ mỗi buổi trưa cuối tuần hay trốn mẹ ra sông để tắm. Một hôm gặp mùa mưa tháng Tám, nước lớn từ trên nguồn tuôn về quá mạnh khiến con đê trong làng bị vỡ, nơi khúc sông cạn bỗng dưng nước ngập, xoáy sâu và chảy xiết. Cả hai anh em tôi đều bị cuốn theo dòng nước và vì sức yeu nên chúng tôi không sao gượng nổi để vào bờ. Lúc bấy giờ tôi chỉ kịp nghe tiếng anh tôi nhắc: “Em ơi! Đừng sợ, niệm Phật Quan Âm đi!”, rồi anh tôi mất dạng. Tôi cũng chìm ngập trong biển nước xoáy. Nhờ lời nhắc niệm Phật Quan Âm của anh tôi, nên ý thức của tôi lúc đó rất bình tĩnh, sáng suốt và tôi nói thầm trong miệng: “Phật Quan Âm ơi! Cứu con với! Con mệt lắm rồi!” Tôi cứ lẩm bẩm trong miệng hoài như thế không biết bao nhiêu lần, cho đến khi không còn biết gì nữa. Tôi đã bị chết trôi? Không, tôi đã được Đức Quan Âm Bồ tát cứu và sống cho đến bây giờ. Năm nay tôi đã 57 tuổi, kể ra tôi cũng thọ mạng đấy chứ.

 

 

Trong cơn mê man của một giấc ngủ dài, tôi nghe tiếng một ông lão gọi bên tai tôi: “Này con, thức dậy để đi tìm anh con về nhà. Mẹ, ba con, ông bà nội của con đang nóng lòng chờ hai anh em con về ăn cơm trưa đó”. Nhờ tiếng gọi đó, tôi đã tỉnh ngủ. Khi thức dậy, tôi thấy mình đang nằm trên một cồn cát trắng, sát bên cạnh một vùng nước mênh mông. Nhìn quanh bốn phía chẳng thấy nhà cửa, chẳng thấy bóng dáng người qua lại. Nhìn vào thân thể, tôi bỗng thẹn thùng vì thấy mình trần trục, không có quần áo gì cả. Nhìn vào ngực, tôi bắt gặp bức tượng nhỏ Quan Âm Bồ tát mạ vàng mà mẹ đã đeo vào cổ cho tôi khi trước. Tôi mỉm cười, cầm bức tượng này vân vê trên tay, rồi nói: “Phật Quan Âm ơi! Anh của con đâu rồi? Nếu anh con bị nước cuốn trôi thì mẹ, ba, ông bà nội, ông bà ngoại con sẽ khóc đó. Con không muốn mất anh mình. Phật Quan Âm ơi! Xin chỉ cho con biết anh đang ở đâu để con tới dẫn anh về nhà kẻo mẹ lo. Mẹ thương hai anh em con lắm”.

 

Vừa cầu khẩn Đức Quan Âm vài tiếng, tôi ngẩng đầu nhìn ra phía sóng nước trùng khơi và thấy một con đò nhỏ đang thoăn thoắt đi về phía tôi. Tôi reo lên mừng rỡ, chờ đợi và nhảy ra ôm lấy anh tôi khi đò vừa đến. Anh tôi đến trên chiếc đò nhỏ với một ông lão. Sau phút chốc, tôi ôm anh mình mừng mừng tủi tủi, quay lại thì không thấy chiếc đò và ông lão đâu nữa. “Ồ, anh ơi! Chiếc đò và ông lão đi đâu mất rồi?” Anh tôi cũng ngạc nhiên như tôi, cả hai anh em mở to mắt tìm kiếm. Nhưng giữa cánh đồng nước mênh mông, vẫn im lìm không một bóng thuyền đò qua lại. Ông lão chèo đò biến mất, chiếc đò cũng không còn.

 

 

Anh tôi thuật lại rằng khi bị cơn nước đẩy, anh tôi không nhìn thấy tôi đâu cả, nên đã la lớn bảo tôi niệm Phật để được Phật Bà giúp đỡ. Anh tôi biết mình sắp chết đuối và nhớ lời mẹ dặn là khi gặp tai nạn thì niệm danh hiệu Quan Âm để được Phật Bà cứu độ. Lúc đó, anh tôi tin là có Phật Bà và Phật Bà rất linh thiêng, nên anh tôi không quá lo sợ. Anh nhắm mắt và thầm niệm: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Ứng Quán Thế Âm Bồ tát”. Niệm chừng được mười lần danh hiệu Phật Bà thì anh tôi chẳng còn hay biết gì cả. Khi tỉnh dậy, anh thấy mình đang nằm trên chiếc giường tre với bộ quần áo xanh mới, bên cạnh bếp lửa đang nấu nồi cháo trắng sôi sùng sục. Trong nhà chỉ có một mình ông lão tuổi chừng 70, tướng mạo rất đẹp, miệng tươi cười như Phật Di Lặc. Ông lão lấy cháo trộn với đường cát cho anh tôi ăn một tô lớn rồi khen anh tôi ngoan, giỏi, còn nhỏ mà biết tin Phật Bà Quan Âm. Anh tôi hỏi: “Ông có biết Phật Bà ở đâu không?” Ông lão cười và đưa tay chỉ vào trái tim anh tôi, ý như muốn nói Phật Bà ở nơi tâm này. Ăn cháo xong, ông lão nói với anh là đi tìm tôi và sẽ đưa cả hai anh em về nhà. Anh tôi ngồi trên chiếc đò nhỏ và ông lão đưa anh tới đây gặp tôi.

 

Tôi bảo anh: “Như vậy ông lão đó chính là Đức Quan Âm mà anh em mình thường nghĩ và niệm tên của Ngài lâu nay”.

 

 

Anh tôi gật đầu và thốt lên: “Ừ hơ, ờ hơ, anh có cảm giác là ông lão này lạ lùng lắm, không phải một người thường”. Mặt trời chiếu lên cao, anh tôi cởi chiếc áo đang bận trùm lên mình tôi. Hai anh em tôi dắt nhau về nhà một cách bình an.

 

 

Chuyện này xảy ra tại thôn Phường Sắn, năm ấy anh Hai tôi mới khoảng 9 tuổi. Phường Sắn là một thôn nhỏ thuộc làng Long Hưng, Hải Lăng, Quảng Trị, nơi tôi sinh ra và lớn lên.

 

Nguyễn Năng Diêu, anh Hai tôi ghi lại chuyện này trong nhật ký của mình. Tôi cung kính chép lại nơi đây để cống hiến đến quý thân hữu xa gần trải nghiệm về sự cảm ứng gia trì thật vi diệu của Đức Quán Thế Âm Bồ tát.


 

Viết bình luận

Chúc mừng năm mới
Số lượt truy cập: 796,376
Số người trực tuyến: