| Drukpa Việt Nam

Bạn đang ở đây

Giải thích thuật ngữ
Các khái niệm Mật thừa - Kim Cương thừa
A B C D E F G H J K L M N O P R S T U V W Y
Yang Gonpa, Gyalwa
(1213-1287) – một đệ tử của đại hành giả Gyalwa Gotsangpa (1189-1258), được tôn kính là một trong ba Bậc Toàn Tri Tôn Quý hay “Gyalwa Namsum” trong lịch sử truyền thừa Drukpa, trong việc công nhận thành tựu chứng ngộ tâm linh của Ngài.
Yana
Phương tiện hay còn đường đạt chứng ngộ.
Yanmantaka
nghĩa đen “điểm kết thúc của cái chết”; một hiện thân phẫn nộ của Manjushri (của Đức Văn Thù), một Bồ Tát Đại Trí Tuệ.
Yab-Yum
nghĩa đen là “mẹ và cha”; trong Kim cương thừa, đây là sự hợp nhất của phương tiện (nhân tố nam tính) và trí tuệ (nhân tố nữ tính).
Wengchen, Công chúa
(623-680) – Hoàng hậu của đức Vua Songtsen Gampo (617-650); cháu gái của đế vương đầy quyền lực Tang Taizong của triều đại Tang, Trung Quốc. Cùng với hoàng hậu của đức vua Nepalese, công chúa Bhrikuti Devi, bà đã truyền bá Phật giáo đến Tây Tạng. Bức tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni mười hai tuổi mà bà mang đến như một của hồi môn hiện nay đang được cất giữ tại tự viện Jokhang ở Lhasa, Tây Tạng.
Viswakarma
thợ lành nghề người tạo ra ba bức ảnh đức Phật được gia trì bởi đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Một bức ảnh mười lăm chân được mang đến cõi thiên, và một bức ảnh mười chân được mang đến cõi Thiên Long và một bức ảnh hai chân của đức Phật được giữ ở Magadh để Phật tử cúng dường và bày tỏ lòng sùng kính.
Vipashyana
lhagthong trong tiếng Tạng; phân tích, nội chứng và thiền định. Đây là phương pháp thiền định để đạt được nội chứng về bản chất thực tại, được sử dụng rộng rãi trong thực hành Đại thủ ấn và Dzogchen.
Vinnaya
một trong Tam Tạng; những giáo pháp của đức Phật về chuẩn mực đạo đức và giới luật trong cộng đồng tự viện.
Vimalamitra
(thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ thứ IX) – được biết là Drimed Shenyen ở Tây Tạng; một trong những thượng sư Phật giáo Ấn Độ uyên bác nhất đã đến Tây Tạng vào thế kỉ thứ IX, nơi Ngài đã hoằng truyền giáo pháp rộng rãi và biên soạn chuyển dịch rất nhiều kinh tiếng Phạn sang tiếng Tạng. Tinh túy trong giáo pháp của Ngài được biết là Vima Nyingthig, một trong những giáo pháp trọng yếu ở Dzogchen.
Vikramashila
cùng với Đại học Nalanda là một trong hai trung tâm tu học Phật giáo quan trọng nhất, trong triều đại Pala cai trị Ấn Độ vào giữa thế kỉ thứ VIII và XII. Atisha là một trong những học giả lỗi lạc nhất của trung tâm này. Trung tâm này bị quân xâm lăng Hồi giáo phá hủy vào thế kỉ thứ XII.
Vasabanfhu
(thế kỉ thứ IV) – một học giả-tăng sĩ người Ấn Độ, cùng với người huynh đệ Asanga, là người thành lập chính trường phái Yogacara.
Vajrayana
“kim cương” hay “mật thừa”; thường đồng nghĩa với Mantra thừa và Tantra thừa; được phát triển từ Phật giáo Đại thừa và dựa trên những nghĩ lễ thực hành cao cấp; sự khởi đầu rất quan trọng trong Kim cương thừa và phải được một bậc thầy chính thống đủ phẩm hạnh truyền quán đỉnh cho hành giả để thực hành thiền định kết nối với một bản tôn cụ thể.
Vajrasattva
Báo thân của chư Phật, là cội nguồn của phương pháp tu tập tịnh hóa nghiệp chướng.
Vajrapani
nghĩa đen, “tiếng sét trong tay”; một trong ba vị Bồ Tát, người biên soạn chính các giáo pháp Kim cương thừa, hiển lộ quyền năng của tất cả chư Phật.
Vajradhara
nghĩa đen , “người nắm giữ kim cương”, còn được biết là Dorje Chang trong tiếng Tạng; đức Phật nguyên thủy hay Adi Buddha, một pháp thân của đức Phật, màu xanh đậm; hiển lộ tinh túy của chư Phật và đại diện cho chứng ngộ về giác ngộ của Đức Phật nguyên thủy.
PAGE of 27 ( 393 TOTAL RECORDS)

Trang

Chúc mừng năm mới
Số lượt truy cập: 688,005
Số người trực tuyến: