| Drukpa Việt Nam

Bạn đang ở đây

Giải thích thuật ngữ
Các khái niệm Mật thừa - Kim Cương thừa
A B C D E F G H J K L M N O P R S T U V W Y
Thangka
Một loại tranh cuộn truyền thống của Tây Tạng, thông thường tả lại một bản tôn hoá thần.
Terton
bậc khám phá kho tàng bí mật, đa số được cất giấu bởi Đức Guru Padmasambhava và Minh Phi Tâm Linh của Ngài là Yeshe Tsogyal.
Terma
bí điển – những giáo pháp được cất giấu do Đức Guru Padmasambhava hoặc đôi khi là những bậc thầy Kim Cương khác tại những nơi bí mật, chờ được khám phá vào thời điểm thích hợp và bởi những bậc đầy đủ phẩm hạnh, được gọi là các bậc terton, đa số họ đều là các đệ tử của Đức Guru Padmasambhava hóa thân trở lại.
Tenggyur
Đan Thù Tạng – bao gồm 213 luận kinh chính của các bậc học giả và thành tựu giả Ấn Độ bàn về Tam Tạng Kinh Điển bằng tiếng Tây Tạng.
Tendrel
nhân duyên - mối quan hệ nhân duyên tương hỗ; mô tả bản chất của hiện tượng là mối liên hệ tương hỗ của vạn pháp.
Ten Perfection
Thập Độ Toàn Hảo- xem thêm Ten Paramitas.
Ten paramitas
Thập Độ Ba La Mật - thiện hạnh Bồ Tát để đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng; đây là sự phát triển “Lục Độ Ba La Mật”; thêm vào Sáu Ba la mật đã được nhắc tới, còn bốn ba la mật là phương tiện ba la mật, lực ba la mật, nguyện ba la mật, trí tuệ ba la mật.
Ten Boddhisattva grounds
Thập địa Bồ Tát – còn được gọi là “Ten Bhumis”, là thành quả của thập hạnh, tức là hoan hỷ địa, ly cấu địa, phát quang địa, diễm huệ địa, cực nan thắng địa, hiện tiền địa, viễn hành địa, bất động địa, thiện huệ địa, pháp vân địa; địa cuối cùng chính là Phật quả với ánh hào quang toàn tri.
Tara:
Độ Mẫu – nghĩa đen là “bậc cứu độ”; một hóa thân của Đức Avalokiteshvara, đã thị hiện từ những giọt lệ của Bồ Tát để trợ giúp Ngài trong các thiện hạnh; Ngài có hai mươi mốt hình tướng, trong đó Đức Lục Độ Mẫu và Đức Bạch Độ Mẫu quen thuộc hơn cả đối với các hành giả.
Tara
Độ Mẫu – nghĩa đen là “bậc cứu độ”; một hoá thân của Đức Avalokiteshvara, đã thị hiện từ những giọt lệ của Bồ Tát để trợ giúp Ngài trong các thiện hạnh; Ngài có hai mươi mốt hình tướng, trong đó Đức Lục Độ Mẫu và Đức Bạch Độ Mẫu quen thuộc hơn cả đối với các hành giả.
Tantra
Mật giáo – nghĩa đen là “không gián đoạn”, giáo pháp bí mật trong Kim Cương Thừa; một thuật ngữ dùng để chỉ vô số giáo pháp, thông thường chứa đựng hệ thống thiền quán Kim Cương Thừa, hoặc giáo pháp bí mật của một Truyền thừa được truyền không gián đọan từ Đức Phật tới bậc trì giữ Truyền thừa hiện đời.
Tango
còn được gọi là Tago, có nghĩa là “mã đầu”, có nguồn gốc từ hòn đá hình đầu ngựa trên một mỏm đá nhô ra, được tin là dấu ấn tự thân chứng đắc của bản tôn Hayagri. Đây là một trong những trường đại học bề thế nhất của Bhutan, nằm gần thủ đô Thimphu.
Tamdrin
Xem thêm Hayagriva
Takin
quốc thú của vương quốc Bhutan, tiếng địa phương gọi là Drong Gemtse, có đầu dê và mình bò tót. Theo truyền thuyết, khi Đức Drukpa Kunleg (1455-1529) ghé thăm Bhutan, một chúng hội gồm rất đông người dân địa quận Wangdu đã thỉnh cầu Ngài phô diễn thần thông. Với những cách hành xử bất thường và kỳ lạ, Ngài liền yêu cầu trước tiên Ngài phải được cúng một con bò và một con dê cho bữa ăn trưa. Sau khi dùng bữa xong, Ngài lấy đầu con dê và lắp nó vào bộ xương con bò, rồi chỉ sau một cái búng ngón tay, con vật đã đứng lên và chạy tuốt vào thung lũng. Loài thú này về sau được gọi là Takin.
Swayambhunath
nghĩa đen là “Đức Phật tự thân hiện hữu”; một trong những thánh địa cổ kính và linh thiêng nhất của thung lũng Kathmandu thuộc Nepal. Đây còn được gọi là Chùa Khỉ vì có vô số khỉ sống ở mạn phía tây bắc. Truyền thuyết cho rằng chúng được biến thành từ những con rận trên đầu Đức Văn Thù, người đã nhìn thấy sen mọc và lửa bốc lên từ vùng Swayambhunath, thời đó còn là một hồ nước. Đức Văn Thù đã làm cạn hồ nước bằng cách dùng kiếm của Ngài vạch thành một đường đèo giúp cho người dân Himalaya có thể vào được nơi này.
PAGE of 27 ( 393 TOTAL RECORDS)

Trang

Chúc mừng năm mới
Số lượt truy cập: 536,092
Số người trực tuyến: