| Drukpa Việt Nam

Bạn đang ở đây

Giải thích thuật ngữ
Các khái niệm Mật thừa - Kim Cương thừa
A B C D E F G H J K L M N O P R S T U V W Y
Sikkim
một vùng đất cổ xưa được biết đến với tên gọi Indrakil hay “Khu vườn của Indra, chúa tể các cõi thiên”, hiện nay là một vùng đất thuộc Ấn độ nằm gọn trong lòng dải Hymalaya, giáp biên giới Nepal về phía tây, biên giới Tây Tạng về phía bắc và đông và biên giới Bhutan về phía đông nam. Đức Guru Padmasambhava đã đi qua Sikkim trên đường tới Tây Tạng; Ngài đã ban gia trì cho vùng đất này, đưa Đạo Phật du nhập vào và tiên đoán trước về một triều đại vua sẽ trị vì trên đất này trong thời sau. Đây cũng là một vùng đất được gia trì bởi có rất nhiều hang động của chư dakini cũng như từng có sự hiện diện của rất nhiều bậc thầy linh thiêng đã để lại ở đây vô số ấn chứng về thành tựu giác ngộ của các Ngài.
Siddhi
Thành tựu - những quyền năng tuyệt đối mà một siddha đã đạt được.
Siddharta Gautama
Xem thêm Sakyamuni và cảnh.
Siddha
Thành tựu giả - một bậc thầy đã trực tiếp đạt được chứng ngộ vượt xa những tu học thông thường và hoàn toàn có được những quyền năng tự  tại được cả đối với thân và pháp.
Shunyata
Tính không – tongpa nyid trong tiếng Tây Tạng; là bản chất của mọi sự vật hiện tượng vạn pháp đều là vô thường; không một pháp nào có bản chất chắc thật, tất cả chỉ là tuỳ duyên.
Shiva
thần Siva - một vị thần chính của Đạo Hindu.
Shingthiri, Kinh
vua Shingthri - vị vua của vương quốc cổ đại Lhomon, ở miền nam Tây Tạng; một chúa quỷ theo truyền thuyết đã bị hàng phục bởi Đức Gesar thuộc tỉnh Ling.
Shingkyong Wangpo
Hộ pháp của Tsari, thánh địa linh thiêng của bản tôn Chakrasamvara, gần tự viện Drug Sangag Choeling, miền nam Tây Tạng
Shinay
Thiền định – xem thêm Shamatha.
Shawaripa
Một trong tám mươi tư Thành tựu giả của Ấn Độ.
Shantideva
(khoảng thế kỷ thứ VIII) - một học giả Phật giáo Ấn độ đã từng tu học tại Đại học lừng danh Nalanda. Ngài là một người trung thành với trường phái Madhyamika tức Trung Đạo.
Shantarakshita
một bậc đại thiền trí nổi danh trong Phật giáo Ấn độ vào thế kỷ thứ tám và là trụ trì của trường Đại học danh tiếng Nalanda; một người cùng sinh thời với Đức Guru Padmasambhava và có pháp danh gần gũi là Khenpo Bodhisattva trong tiếng Tây Tạng. Ngài đã sáng lập ra trường phái triết học Yogacara-Svatantrika-Madhyamaka trong đó có hợp nhất cả giáo lý Trung Đạo của Đức Nagarjuna (150-250), giáo lý Yogacara của Đức Asanga (300-370) với những luận cứ logic và những nhận thức luận của Đức Dharmakirti. Ngài đã khuyên đức vua Trisong Deutsen (790-844) nên mời Đức Guru Padmasambhava tới nhiếp phục những thế lực ám chướng đã cản trở sự hoằng truyền của Phật Pháp tại Tây Tạng. Cùng với Đức vua Trisong Deutsan và Đức Guru Padmasambhava, Ngài đã viên mãn hoàn thành công trình xây dựng Samye, tự viện Phật giáo đầu tiên được kiến lập ở Tây Tạng. Ngài cũng đóng vai trò chủ chốt trong việc dẫn nhập Đạo Phật và Truyền thừa thụ giới Sarvastivadin (Nhất thiết hữu bộ) vào Tây Tạng, thời đó được phát triển tại Samye.
Shambala
một vương quốc thần bí mà sự tồn tại được nhắc tới trong nhiều kinh điển cổ đại, bao gồm cả Kalachakra Tantra. Được trị vì bởi một dòng tộc vua Kulika hay Kalki (tiếng Phạn), hay Rigden (tiếng Tây Tạng), họ là những bậc trì giữ và phát triển giáo pháp Kalachakra Tantra. Đây được coi là một nơi an nhiên, hỷ lạc, với mọi người dân sống trong vương quốc này đều là những bậc giác ngộ.
Shamatha
Tịnh chỉ thiền - tiếng Tây Tạng là shinay; thiền định. Đây là phương pháp thiền chú trọng việc rèn luyện sự tập trung cao độ trong một thời gian dài để nhờ đó có thể dễ dàng định tâm và đôi khi một thời thiền có thể kéo tới nhiều giờ đồng hồ.
Shakyamuni, Buddha
(563-482 trước Công Nguyên) – nghĩa đen là “Bậc Thông Thái của dòng họ Thích Ca”. Ngài đản sinh trong khu vườn Lumbini (Lâm Tì Ni) và trưởng thành trong một vương quốc nhỏ ở Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ). Cả hai địa danh này ngày nay đều thuộc Nepal, gần biên giới Ấn độ. Phụ thân của Ngài là đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn) của dòng họ Sakya (Thích Ca) và mẫu thân của Ngài là hoàng hậu Mayadevi (Tịnh Diệu), vốn là một công chúa nước Koliyan. Vào đêm thụ thai, hoàng hậu Mayadevi nằm mơ thấy một con voi trắng sáu ngà chui vào người qua hông bên phải. Mười tháng sau, Bà hạ sinh được một người con trai, trên đường Bà quay về vương quốc của phụ thân để chuẩn bị lâm bồn theo tục lệ thời đó. Lớn lên Thái tử đã kết hôn với một người em họ, công chúa Yasodhara (Da Du Đà La) và cả hai đã sinh hạ một con trai là Rahula (La Hầu La). Vào năm hai mươi chín tuổi, sau khi chứng kiến những nỗi khổ sinh, già, bệnh, chết của kiếp người trong vòng quay luân hồi sinh tử, Thái Tử quyết định xả ly vương quốc và quyết siêu việt luân hồi qua sự thực hành pháp tu khổ hạnh. Cùng với năm tu sĩ khổ hạnh khác, Ngài đã thực hành sự khổ hạnh tới tận cùng trong vòng sáu năm. Sau đó, Ngài khám phá ra Trung Đạo, một con đường trung dung nằm giữa hai thái cực là sự đắm hưởng dục lạc và sự khổ hạnh đọa đày thân xác. Sau bốn mươi chín ngày thiền định dưới gốc cây Bồ Đề, Ngài đã chứng đạt Giác Ngộ Tối Thượng vào tuổi ba mươi lăm, và trở nên nổi tiếng với pháp danh Shakyamuni hay “Bậc giác ngộ của dòng họ Thích Ca”. Ngài đã thuyết pháp trong vòng bốn mươi lăm năm, du hóa tới miền đồng bằng Gangetic mà ngày nay là vùng đất bao gồm cả Uttar Pradesh, Bihar thuộc Ấn độ và miền nam Nepal. Ngài có vô số tầng lớp đệ tử và Phật tử, từ giới vương giả cho tới những người vô gia cư, trong đó có cả những tên sát nhân hoặc ăn thịt người. Tín ngưỡng tâm linh do Ngài sáng lập đã trở nên lừng danh với tên gọi Đạo Phật, và được mở rộng cho mọi dòng tộc, mọi tầng lớp và không hề có sự phân biệt đẳng cấp. Ngài đã nhập Niết Bàn vào năm tám mươi tuổi.
PAGE of 27 ( 393 TOTAL RECORDS)

Trang

Chúc mừng năm mới
Số lượt truy cập: 762,418
Số người trực tuyến: